CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ DẤU ẤN SÂU SẮC TRONG HAI BẢN HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ DẤU ẤN SÂU SẮC TRONG HAI BẢN HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM
Trong dòng chảy lịch sử lập hiến của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khởi xướng mà còn là kiến trúc sư trưởng của hai bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Hai văn kiện lịch sử này không chỉ đặt nền móng cho nhà nước pháp quyền Việt Nam mà còn thể hiện rõ tư tưởng lập hiến tiến bộ, nhân văn và dân chủ sâu sắc của Người.
Hiến pháp 1946 – Bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, giữa muôn vàn khó khăn “thù trong giặc ngoài”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định: “Khi nước đã độc lập, quốc gia có chủ quyền thì phải sớm ban hành Hiến pháp”. Với Người, Hiến pháp không chỉ là biểu tượng của chủ quyền quốc gia mà còn là công cụ pháp lý bảo vệ độc lập dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân.
Ngày 20/9/1945, chỉ chưa đầy một tháng sau Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên, do chính Người làm Trưởng ban. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản dự thảo được soạn thảo khẩn trương, công bố rộng rãi trên báo Cứu quốc để nhân dân góp ý.
Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I (28/10 – 9/11/1946), sau nhiều phiên thảo luận sôi nổi, Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới. Hiến pháp năm 1946 trở thành bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta và là một trong những văn kiện lập hiến sớm nhất ở châu Á.
Trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự hào khẳng định:
“Sau khi nước nhà mới được tự do hơn 14 tháng, đã làm bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà... còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa.”
Hiến pháp 1959 – Dấu ấn của thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước bước vào giai đoạn mới: miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh thống nhất đất nước. Trước yêu cầu cách mạng mới, Quốc hội khóa I quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946 và thành lập Ban Dự thảo Hiến pháp sửa đổi gồm 28 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban.
Trong báo cáo trước Quốc hội, Người nhấn mạnh:
“Bản Hiến pháp này sẽ phát huy hơn nữa lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, sẽ động viên nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ hơn nữa để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.”
Bản dự thảo Hiến pháp 1959 được thảo luận rộng rãi trong toàn dân suốt bốn tháng, thu hút sự tham gia sôi nổi của các tầng lớp nhân dân. Ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp mới; ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố.
Với 10 chương và 112 điều, Hiến pháp 1959 kế thừa tinh thần dân chủ của Hiến pháp 1946, đồng thời phản ánh thực tiễn của một nước dân chủ nhân dân đang tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Bản Hiến pháp khẳng định Việt Nam là một nước thống nhất, độc lập, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân; quyền tự do, dân chủ của công dân được bảo đảm; nhân dân thực hiện quyền lực thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh – Nền tảng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, dấu ấn Hồ Chí Minh luôn hiện hữu rõ rệt. Đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đề cao quyền làm chủ của nhân dân, coi Hiến pháp là gốc của mọi thiết chế pháp luật, là khung pháp lý bảo vệ độc lập dân tộc và quyền tự do con người.
Gần tám thập kỷ trôi qua, tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là kim chỉ nam soi sáng con đường xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
