Đình, chùa Khuê Bích – quần thể di tích quốc gia lưu giữ nhiều cổ vật quý
Đình, chùa Khuê Bích – quần thể di tích quốc gia lưu giữ nhiều cổ vật quý
Cách trung tâm thành phố Hải Dương khoảng 30 km, đình, chùa Khuê Bích tọa lạc tại thôn Khuê Bích, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Đây là quần thể di tích lịch sử – văn hóa có giá trị tiêu biểu, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1995, hiện còn bảo lưu nhiều cổ vật quý có niên đại từ thời Lê và thời Nguyễn.
Theo các bậc cao niên trong làng, đình Khuê Bích cổ được xây dựng từ khoảng 300–400 năm trước tại khu Đồng Mang – một gò đất cao, rộng rãi nằm tách xa khu dân cư. Do vị trí không thuận tiện cho việc tế lễ, sinh hoạt cộng đồng, nhân dân địa phương đã di chuyển đình về vị trí hiện nay, cách nơi cũ khoảng 300 m. Ngôi đình hiện tại được xây dựng vào năm 1924, nằm cùng khuôn viên với chùa, trên khu đất phía Nam thôn Khuê Bích.
Đình Khuê Bích là nơi thờ hai vị tướng quân Nguyễn Thiện và Lê Quảng, quê ở vùng Chí Linh xưa, làm quan dưới triều Trần. Hai ông là những người học rộng, tài cao, giàu lòng yêu nước. Khi giặc Nguyên – Mông xâm lược, các ông đã tập hợp hơn ba vạn binh sĩ tham gia quân đội nhà Trần, lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần giữ vững non sông Đại Việt. Sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, hai ông đưa quân về đóng tại vùng Hiệp Sơn (nay thuộc thị xã Kinh Môn) để khao quân mừng thắng lợi.
Ngoài ra, đình còn thờ Quế Anh phu nhân – phu nhân của tướng Lê Quảng, người được nhân dân ca ngợi là phụ nữ văn võ song toàn, có nhiều mưu lược giúp chồng đánh giặc ngoại xâm. Với những công lao to lớn đó, ba vị đã được các vua triều Nguyễn như Thành Thái, Duy Tân, Khải Định ban sắc phong, suy tôn làm Thành hoàng làng.
Về kiến trúc, đình Khuê Bích được xây dựng theo kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian tiền đường và 1 gian hậu cung. Phần hậu cung được bài trí trang nghiêm với hệ thống đồ thờ sơn son thếp vàng. Các cột và vì kèo đều làm bằng gỗ lim, chạm khắc hoa văn theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Trước sân đình đặt hai đôi ngựa đá và voi đá do quan Thượng Quận cung tiến cách đây khoảng 300 năm; hai bên hậu cung còn có hai tiến sĩ đá, tạo nên không gian cổ kính, tôn nghiêm. Mái đình mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống với hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt”.
Cách đình khoảng 50 m về phía Bắc là chùa Diên Thọ, thường gọi là chùa Khuê Bích. Chùa được trùng tu vào đầu thời Nguyễn, có kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh, gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung, phía trước là hồ nước nhỏ tạo cảnh quan thanh tịnh. Trước đây, chùa từng có 4 pho tượng đá chạm khắc hoa văn tinh xảo từ thời hậu Lê, song hiện nay chỉ còn lại 1 pho tượng Phật Tổ. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ 14 pho tượng thời Nguyễn như bộ Tam Thế Phật, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Cửu Long… cùng nhiều câu đối ca ngợi Phật pháp và cảnh sắc nơi đây.
Không chỉ có giá trị về lịch sử và kiến trúc, đình, chùa Khuê Bích còn gắn liền với các giai đoạn cách mạng của dân tộc. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây từng là địa điểm che chở, nuôi giấu cán bộ, là nơi thành lập đội quân du kích của xã và là trạm giao liên quan trọng của Quân khu 3. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, di tích tiếp tục được Tỉnh đội lựa chọn làm nơi huấn luyện, đào tạo hàng nghìn chiến sĩ trước khi lên đường vào Nam chiến đấu.
Theo ông Nguyễn Hữu Phấn, Trưởng Ban Quản lý di tích đình, chùa Khuê Bích, do ảnh hưởng của chiến tranh và điều kiện quản lý trong những giai đoạn trước đây, nhiều cổ vật quý đã bị thất lạc. Hiện nay, Ban Quản lý vẫn còn lưu giữ được 5 đạo sắc phong thời Nguyễn, là những tư liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử và bảo tồn di tích.
Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và truyền thống cách mạng, đình, chùa Khuê Bích không chỉ là niềm tự hào của nhân dân xã Thượng Quận mà còn là điểm đến tâm linh, văn hóa hấp dẫn trên địa bàn thị xã Kinh Môn. Hằng năm, cùng với các di tích và danh thắng khác của địa phương, quần thể đình, chùa Khuê Bích thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.